GMT+7
Trang chủ / Văn hóa

Bảo vật Quốc gia tại Bảo tàng Thanh Hóa

Đăng lúc: 25/11/2020 08:00 (GMT+7)

- Thanh Hóa, vùng đất có bề dày lịch sử, với nhiều nét văn hóa đặc sắc, tiêu biểu, đại diện cho quá trình phát triển của lịch sử văn hóa dân tộc. Trong số hàng vạn cổ vật, đại diện cho những thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước, Thanh Hóa đã chọn lựa, làm hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ và được công nhận 7 bảo vật quốc gia, chủ yếu tập trung ở Bảo tàng tỉnh và di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh. Riêng tại Bảo tàng Thanh Hóa có 3 bảo vật quốc gia.

Trống đồng Cẩm Giang

Còn có tên gọi khác là “Trống Vịt”. Đây là một tên gọi dân dã, nhưng ít nhiều phản ánh tính độc đáo và khác biệt của trống này trong phức hợp trống đồng Việt Nam nói chung và trống đồng Đông Sơn nói riêng. Trống có số đăng ký BTTH4339/KL:123, đường kính mặt: 73cm, đường kính chân: 73cm, cao: 41cm, trọng lượng 60kg. Giữa mặt trống có ngôi sao 16 cánh, tiếp đến là 9 vòng hoa văn. Vòng 1,2,3 và 9 trang trí hoa văn ô trám lồng. Vòng 4 là hình chim lạc đang bay ngược chiều kim đồng hồ. Vòng 5 là hoa văn hình người cách điệu - Đây là vòng hoa văn lớn nhất, mang tính chất chủ đạo trên mặt trống. Vòng 6, hình ảnh chim lạc được tái hiện, nhưng với một biến thể hiện thực hơn so với vòng 4. Các vòng 7, 8 là hoa văn hình học: vòng tròn đồng tâm, tam giác lồng, răng lược. Đặc biệt, rìa mặt trống có 4 khối tượng vịt (uyên ương), được diễn tả khá thực và sinh động, có hướng vận hành ngược chiều kim đồng hồ. Tính độc đáo mang giá trị bảo vật quốc gia chủ yếu nằm ở các khối tượng này.

 BTTH 339 - Trống Cẩm Giang I, thân (BVQG).png

Trống Cẩm Giang I, thân.

Tang trống và lưng trống dường như đều lặp lại những vòng hoa văn trên mặt, với các băng hình người hóa trang lông chim, vòng tròn đồng tâm chấm giữa, hình ô trám lồng. Đó là những hoa văn đặc trưng trên đồ đồng Đông Sơn, là một trong những căn cứ, cùng với kiểu dáng của nó, để có thể xếp trống Cẩm Giang thuộc loại I Heger nhóm Cl, có niên đại cách ngày khoảng 2.000 năm, nằm trong giai đoạn muộn của văn hóa Đông Sơn.

Thông thường, với trống đồng Đông Sơn thuộc giai đoạn muộn, rìa mặt trống là những khối tượng “con cóc là cậu ông trời”, nhưng ở trống Cẩm Giang, thay thế vào đó là tượng vịt, mang nhiều nét tương đồng với loại vịt trời, sải bay trên cánh đồng lúa, vốn là một loại thủy cầm đặc trưng ở vùng sinh thái nhân văn của cư dân trồng lúa nước. Các con vịt được nghệ nhân diễn tả sinh động, rất thực, như vừa hạ cánh, đang bơi trên mặt nước, đầu cao. Cho đến nay, trống Cẩm Giang là chiếc trống độc nhất vô nhị có hình vịt, trong hàng trăm trống Đông Sơn đã được phát hiện ở nước ta.

Thanh Hóa là quê hương nổi tiếng với trống đồng, Bảo tàng Thanh Hóa là một trong những bảo tàng có số lượng trống đồng nhiều nhất nước. Đây cũng là một địa phương, cùng với Hà Nội có đền thờ thần Trống đồng (Đồng cổ) nổi tiếng, với rất nhiều huyền tích và lịch sử quyện lại với nhau. Thanh Hóa cũng là địa phương có cả làng nghề đúc đồng, còn lưu truyền lại cho hậu thế bảo tồn và phát huy.

Kiếm ngắn núi Nưa

Là bảo vật quốc gia thứ hai của Bảo tàng Thanh Hóa. Kiếm được đúc bằng đồng, mang số ký hiệu BTTH6723/KL: 261, có chiều dài 46,5cm, rộng 5cm, với cán dài tới 18cm, nặng 620gr. Các nhà nghiên cứu đã xếp hiện vật này vào loại hình kiếm, dẫu rằng, cán và lưỡi của Kiếm ngắn núi Nưa có nhiều nét tương đồng với dao găm cùng thời.

 BTTH 6723 - Kiếm ngắn núi Nưa (BVQG).png

Kiếm ngắn núi Nưa.

Kiếm ngắn núi Nưa có hai phần, lưỡi và cán. Lưỡi hình lá mía, mỏng, có hai rìa sắc nhọn, chắn tay hình sừng trâu. Cán là khối tượng tròn hình người phụ nữ, nhìn thẳng, hai tay chống nạnh đầy uy quyền, đầu vấn khăn hình chóp, có tạo khía như búp hoa sen. Mặt người phụ nữ hình trái xoan, cằm hơi nhô ra, đôi mắt được thể hiện bằng vòng tròn đồng tâm, xung quanh có những chấm nhỏ, với cặp lông mày dài, cong, sống mũi thẳng. Miệng thon nhỏ, dái tai dài, đeo đôi khuyên to chấm tới tận vai. Ngực và tay đeo vòng trang sức. Trên bụng thắt một dải rộng, chạy xuống sát chân, nổi lên trên nền váy, trùm xuống tận chân. Mình mặc áo chẽn dài tay, bó lấy thân, làm nổi đường cong cơ thể. Kiểu áo xẻ ngực, không cài khuy, để lộ vạt yếm kín cổ bên trong. Có lẽ, đây là một kiểu trang phục truyền thống của phụ nữ Việt còn tồn tại tới những thập niên đầu của thế kỷ XX.

Có thể nhận thấy, trang phục phụ nữ trên cán Kiếm ngắn núi Nưa khá lộng lẫy, với kiểu cách hiện đại, cùng hoa văn hình học mang đặc trưng của nghệ thuật Đông Sơn. Trang phục, hoa văn này, ngày nay vẫn tồn tại trong cộng đồng phụ nữ Mường, đã được cố nhà nghiên cứu dân tộc học mỹ thuật Trần Từ chỉ ra mối liên hệ giữa cạp váy Mường và nghệ thuật Đông Sơn từ những thập niên 80 của thế kỷ trước.

Căn cứ vào trang phục, trang sức và đặc biệt là hình dáng cơ thể, có thể tạm khẳng định, tượng phụ nữ trên Kiếm ngắn núi Nưa mang dáng dấp của tầng lớp quý tộc giàu có trong xã hội đương thời. Theo đó, hình tượng người phụ nữ được tôn vinh với vẻ đẹp đầy quyến rũ trên Kiếm ngắn núi Nưa và những dao găm có chuôi hình người thời Đông Sơn, như phản ánh về một thời đại mẫu quyền, đã tồn tại trong lịch sử dân tộc cách đây hơn 2.000 năm, nay còn thấy “hóa thạch” qua truyền thống văn hóa của một số cộng đồng tộc người thiểu số ở Tây Nguyên và ở miền Trung Việt Nam.

Kiếm ngắn núi Nưa được tìm thấy ở chân núi Nưa, thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nơi Triệu Thị Trinh dựng cờ khởi nghĩa, nay còn di tích đền thờ bà, đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Các nhà khảo cổ khẳng định, dưới lòng đất này có một di tích văn hóa Đông Sơn, tương đương với thời vị nữ anh hùng dấy binh chống quân xâm lược Đông Ngô. Qua đó, chúng ta có thể tạm đặt ra một giả thiết để làm việc, là chiếc kiếm ngắn này như một biểu tượng quyền lực, không phải là vũ khí sử dụng thông thường.

Vạc đồng Cẩm Thủy

Là bảo vật quốc gia thứ ba của Bảo tàng Thanh Hóa. Vạc có số ký hiệu BTTH6019/KL:1025, đúc bằng đồng, kích thước lớn: Đường kính mặt: 134,4cm; đường kính đáy: 115cm; chiều cao: 79,8cm. Vạc hình trụ, miệng hơi loe, thành miệng vát cao, đáy cong lòng chảo. Vạc gắn 6 quai to hình chữ U, trang trí văn thừng. Bên trong thành miệng tạo gờ, trang trí hoa 5 cánh. Trên thành miệng vạc là hoa văn dây lá và hai dòng minh văn chữ Hán đối xứng: “Cẩm Thủy huyện Khâm sai Chính Thống lĩnh Quận công tạo/ Nhâm Thân niên, thập nhất nguyệt, nhị thập bát nhật chú”. Nội dung minh văn khẳng định, Chính thống lĩnh Khâm sai, tước Quận công huyện Cẩm Thủy cho đúc chiếc vạc này ngày 28 tháng 11 năm Nhâm Thân và cũng là người sở hữu chiếc vạc này.

 BTTH 6019 - Vạc đồng Cẩm Thủy (BVQG).png

Vạc đồng Cẩm Thủy.

Qua hoa văn trang trí, chữ Hán về năm tính theo can chi, có thể suy luận rằng, vạc Cẩm Thủy được đúc vào năm 1752, khoảng giữa thế kỷ XVIII, thời Lê mạt.

Vạc là biểu tượng quyền lực của nhà vua, chỉ có vua, chúa mới được phép cho đúc, nhưng chiếc vạc lớn này lại của Quận công, quan Khâm sai ở huyện Cẩm Thủy. Đó là một hiện tượng khá đặc biệt trong lai lịch của chiếc vạc này.

Vào thời Lê Trung Hưng, các quan lang ở vùng Mường, các quan lại của triều đình cử lên vùng biên viễn trấn giữ, được chính quyền Trung ương rất cưng chiều và ưu đãi. Vị quan Khâm sai quê Cẩm Thủy, sở hữu chiếc vạc lớn nêu trên, hẳn nằm trong sự cho phép của triều đình đối với vùng biên viễn.

Trước và sau khi được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận bảo vật quốc gia, việc tuyên truyền, phát huy giá trị của những di sản văn hóa vô giá này luôn được Bảo tàng Thanh Hóa quan tâm, chú trọng và đã đạt được những kết quả nhất định. Cả 3 bảo vật đang được bảo quản, trưng bày ở vị trí trang trọng nhất, phục vụ nhu cầu tham quan, nghiên cứu học tập của công chúng.

Bảo tàng Thanh Hóa đang từng bước nghiên cứu các giải pháp đổi mới về nội dung, hình thức trưng bày sao cho phù hợp với từng bảo vật quốc gia, trong đó, chú trọng tới nội dung thuyết minh, yêu cầu cán bộ thuyết minh phải hiểu biết sâu sắc nội dung, giá trị hiện vật gắn với những câu chuyện lịch sử gây được sự chú ý, xúc động với người xem. Bên cạnh đó, Bảo tàng còn tổ chức nghiên cứu xây dựng clip về các bảo vật quốc gia để tăng cường tuyên truyền, quảng bá, tạo hiệu ứng thu hút được nhiều hơn nữa sự quan tâm của công chúng đến với Bảo tàng. Trong các cuộc trưng bày chuyên đề, lưu động có thể lồng ghép đưa hình ảnh bảo vật quốc gia, nếu có điều kiện an toàn, có thể giới thiệu những bảo vật này đến gần với công chúng hơn.

Đặc biệt, Bảo tàng đang đẩy mạnh nghiên cứu chỉnh lý nội dung, hình thức các phòng trưng bày theo sưu tập văn hóa mang những nét đặc sắc riêng; từng bước cải tạo chỉnh trang diện mạo khu vực khuôn viên trưng bày ngoài trời, đảm bảo cảnh quan, công năng phù hợp hoạt động tuyên truyền; thường xuyên phối hợp với các đơn vị, cơ sở sản xuất thủ công truyền thống để có thể đưa hình ảnh, phiên bản của bảo vật quốc gia làm sản phẩm quà lưu niệm, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin giới thiệu, quảng bá bảo vật quốc gia trong các chương trình hoạt động của Bảo tàng trên các phương tiện thông tin đại chúng, website và mạng xã hội facebook của Bảo tàng.

Thanh Hóa - xứ Thanh, là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, có bề dày lịch sử không chỉ 990 năm như danh xưng (đến nay), mà còn xa hơn nữa, tới vài chục vạn năm (di chỉ núi Đọ), tạm tính từ thời hồng hoang của lịch sử loài người, đến văn minh Đông Sơn tỏa sáng và thời kỳ độc lập tự chủ đầy hiển hách, tới lịch sử chống Pháp, chống Mỹ hào hùng, ắt hẳn vùng đất này còn tiềm ẩn nhiều di sản văn hóa trong lòng đất, trong Bảo tàng, trong các sưu tập tư nhân và trong các di tích lịch sử - văn hóa. Các bảo vật quốc gia và hàng vạn hiện vật trong Bảo tàng tỉnh chưa phải đã phản ảnh hết giá trị của mảnh đất này.

Để đáp ứng yêu cầu thực tại, bên cạnh hoạt động bảo quản, trưng bày phục vụ công chúng, Bảo tàng Thanh Hóa sẽ tiếp tục tranh thủ các chuyên gia ở trong và ngoài tỉnh, xây dựng thêm hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét công nhận bảo vật quốc gia vào những năm tiếp theo. Đó là một trách nhiệm để tăng thêm niềm tự hào của người dân xứ Thanh về lịch sử và văn hóa quê hương.

Ths. Trịnh Đình Dương

Giám đốc Bảo tàng Thanh Hóa


0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1