GMT+7
Trang chủ / Văn hóa / Văn nghệ

Chúng tôi viết “Truyền thống Hàm Rồng"

Đăng lúc: 12/09/2020 08:00 (GMT+7)

Ký của Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh

Năm 1968 (31/3), giặc Mỹ “xuống thang" ném bom hạn chế ở miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Ở Hàm Rồng cũng có nhiều biến chuyển. Tôi ở Báo Quân khu Ba về Hàm Rồng làm tờ "Tin Hàm Rồng" cùng với Hoàng Hữu. Anh Hoàng Hữu là lính “Radda nhìn vòng" nhưng có tay nghề làm báo rất cừ. Không những thế, Hoàng Hữu còn là tay viết kịch nói, chèo cho đơn vị diễn và in trên các báo. Hai chúng tôi lo cho tờ tin.

Kể cái đời tôi cũng lắm chuyện. Đi viết gương chiến đấu, viết báo... không ai dùng nữa lại trả về đồi “ba cây thông". Tôi buồn nhiều. Nhưng không dám nói ra, sợ bị đánh giá “tư tưởng kém". Về đơn vị chưa ấm chỗ, lại được gọi lên Ban chính trị nhận nhiệm vụ. Lần này được giao: "Viết truyền thống Trung đoàn".

Cũng thật buồn cười. Cái mặt tôi, chưa qua bất cứ trường ốc nào, lại đi viết sử. Nhớ lại, năm 1969, đơn vị được xét đề nghị phong danh hiệu anh hùng, tôi và anh Lê Xuân Giang, lính cùng nhập ngũ, cùng quê; được cử: “Viết báo cáo thành tích đơn vị". Kể cũng oách. Bao nhiêu lính đi bộ đội lâu năm hơn mình, lại là đảng viên hẳn hoi mà người ta không giao, lại giao cho quần chúng. Bạn đã có lúc nào gặp tâm trạng “nở ra từng khúc ruột" bao giờ chưa. Khi anh được cấp trên, nhất là “đại đội gang thép như Đại đội 4 Hàm Rồng", được chính trị viên, họp cấp ủy, phân công cho chắp bút, viết báo cáo gửi ra tận Trung ương để Đảng, Chính phủ xét, phong tặng Danh hiệu Đơn vị Anh hùng.

Từ trong hầm nghe chính trị viên giao việc mà cứ châng lâng thế nào.

- Các cậu là “những nhà báo" nên giao cho chắp bút viết. Được cấp trên tin tưởng và cử làm một việc động trời như vậy là vui lắm, nhưng biết đào đâu ra “thành tích" đây. Nhớ lại cuối năm 1965, chỉ là anh binh nhì mà được cử đi “viết gương chiến đấu" khắp Lèn, Bái Thượng, Hàm Rồng... còn dám làm nữa là.

Chúng tôi được chính trị viên gọi lên Chỉ huy sở, có việc gấp. Ngồi trong lán chỉ huy với ông chính trị viên là một ông già. Ông già này, mặc áo lụa, đi dép xăng đan, râu tóc bạc phơ, nom dáng dấp như cụ tiên giáng trần. Chúng tôi còn rón rén chưa dám vào, thì chính trị viên đã gọi:

- Hai cậu vào đi!

Chưa biết chào ông cụ ấy là gì, chính trị viên đã gỡ bí, bằng cách thân mật, giới thiệu hai đứa chúng tôi...

- Xin được giới thiệu với bác Lê Mạnh Trinh, hai đồng chí đây là “nhà báo" được giao viết thành tích cho đơn vị, đề nghị phong danh hiệu anh hùng. Xin được bác chỉ giáo cho. Dừng lại, chính trị viên nói với giọng cảm kích.

- Xin được giới thiệu với hai đồng chí, bác Lê Mạnh Trinh là phó ban nghiên cứu lịch sử của Đảng Lao động Việt Nam, về thăm đơn vị ta. Nhân tiện nhờ bác “bồi dưỡng" cho hai đồng chí cách “viết sử".

Không tin vào tai mình nghe được gì. Thấy người cứ run lên vì hãi. Làm sao một cụ già nom đạo cốt như tiên giáng trần thế này, chức vụ to như thế lại chuyện trò với hai chú lính dở ngô dở ngọng như mình được chứ. Dường như hiểu được vẻ lúng túng của người lính mà cụ Lê Mạnh Trinh cười, làm rung cả chùm râu bạc phơ.

- Ban đầu viết lách, ai cũng cảm thấy khó... nhưng mạnh dạn tập làm rồi quen...

Cụ Lê Mạnh Trinh làm cho trái tim chúng tôi yên lòng, chứ sự thật thì cái khó lúc nào cũng thường trực đối với tôi. Cụ nói, để có thành công, trước tiên phải có bản lĩnh, sự tự tin là mình làm được. Cụ nói với chúng tôi đi tìm sự kiện lịch sử là tước bỏ đi cái thô lấy cái tinh. “Quý hồ tinh hơn quý hồ đa". Nghe, như mây như khói. Nghe, không hiểu có nhập tâm được gì không. Rồi chia tay cụ, không hiểu mình tiếp thu được điều gì, hay chỉ ngồi mà ngắm cụ. Cụ già, phong độ phi phàm, có chức vụ rất to mà chịu ngồi giảng giải đàm đạo với hai chú lính ngây ngô. Cụ cười, chúng ta chuyện trò trao đổi với nhau cho nó vỡ ra, các đồng chí thì giàu thực tế, mà thực tế là vốn quý, còn chúng tôi thì ngồi bàn giấy thiếu kinh nghiệm thực tế lắm. Như thế là đôi bên đều tiến bộ...

Tổ viết sử gồm ba người, Lê Văn Tĩnh, Lê Xuân Giang và Nguyễn Ngọc Khuê, cả ba đều là trung sỹ, riêng Lê Xuân Giang là đảng viên, còn tôi và Khuê là quần chúng. Ngoài viết lách ra, Nguyễn Ngọc Khuê có tài ca hát... Mấy ông trợ lý, không hiểu có đọc được gì bọn này viết không, nhưng gặp là chào “nhà báo". Ngay cả Chính ủy cũng gọi như thế. Công việc cũng thuận lợi, vì ông trợ lý tuyên huấn vốn là chính trị viên đại đội tôi mới được điều lên. Ông là người trực tiếp phụ trách “tổ viết sử". Nghe giao nhiệm vụ rất là choáng váng. Những sự việc mà chúng ta đang chứng kiến hôm nay, mai sau sẽ để lại cho con cháu học tập. Tuy nó bình thường, nhưng đi vào lịch sử cuộc chiến tranh vĩ đại bảo vệ cầu Hàm Rồng. Như Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: "Hàm Rồng xây dựng anh dũng không phải chỉ cho Thanh Hóa mà cho cả miền Bắc, mà cho cả toàn quốc"... Vì vậy người viết sử như các đồng chí cũng quan trọng lắm. Để lại cho mai sau...

Chúng tôi sẽ đi khắp các trận địa để tìm hiểu, sưu tầm. Về cả quê hương của những cán bộ chiến sỹ đã hy sinh để tìm hiểu về họ. Không nói ra nhưng trong bụng tôi có tự tin, rằng đã viết một số gương chiến đấu “xưa rồi".

Lại có “hội diễn văn nghệ quần chúng" mà Nguyễn Ngọc Khuê được điều đi tập văn nghệ, còn tôi và Lê Xuân Giang. Bắt đầu mượn “nhật ký tác chiến" đọc và ghi lại từng trận đánh. Cái hào hứng này không được lâu. Ban đầu thấy sự cần cù ghi chép là đáng giá, nhưng lâu thấy mệt mỏi, cũng không hiểu mình ghi chi tiết từng trận đánh, để làm gì. Nhưng bỏ thì tiếc, nếu không phải chuyện viết sử, thì ai cho chúng tôi đọc tài liệu tuyệt mật này.

Chiến tranh cao xạ cũng đặc biệt. Không bao giờ có thể chủ động mà đánh địch. Nó phải bay đến gây sự, bắn phá, ném bom, mình mới bắn trả lại. Cái quyền đánh hay không là do nó. Tức bực đến mấy, cũng chịu. Phải ngồi trên pháo mà chờ. Một điều khá bất mãn là chưa bao giờ nhìn thấy mặt kẻ thù. Nó ở trên trời cao. Bảo vệ mục tiêu, mà chưa bao giờ thấy mục tiêu ở đâu. Cái anh hùng của người lính cao xạ cũng rất khác, nằm trong sự hiệp đồng của một tập thể, một khẩu đội. Nhiều khi, bị thương là không bao giờ còn quay về nơi đồng đội cũ, anh đi viện rồi, đơn vị cũng hành quân đi bảo vệ mục tiêu khác. Nhiều khi đánh nhau cũng rất “sân khấu" đình đoàng, bom rơi ầm ầm, rồi trở về im lặng. Cái im ắng thật nặng nề.

(còn nữa)

Từ Nguyên Tĩnh

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1